Vị cha già của Không Thủ Đạo

Nền văn hóa Đông phương đã từ lâu xem trọng tinh thần và tâm linh con người hơn là sự hiệu quả chính xác của một cái máy. Có lẽ vì đồng quan điểm đó mà Sở Cảnh sát Đông Kinh trước kia đã có lần bổ nhiêm một vị thầy Không Thủ Đạo (Karatedo) vào bộ tham mưu của mình, giữ chức “khám phá lời nói dối”. Nhiệm vụ của ông là nghe các cuộc hỏi cung những người tình nghi và cho biết, sau khi chỉ nghe và nhìn những biểu lộ, đặc tính và vẻ mặt, họ nói dối hay nói thật. Các nhân viên cảnh sát đã xem trọng những ý kiến của ông và làm việc theo những lời đề nghị của vị thầy đó. Sau nhiều năm làm việc, vị thầy Không Thủ Đạo chưa một lần sai lầm trong việc xét đoán của mình.

Cuối cùng, Chính phủ Nhật nhờ vị thầy Không Thủ Đạo ấy qua Mãn Châu thi hành một sứ mạng chính trị rất khó khăn. Ông nhận lời, nhưng khi ông ở lại đây, ông bị Chính phủ Trung Hoa thù nghịch bắt giam làm tù chính trị.

Trong tù, ông bị đối xử rất tệ. Mặc dầu các chúa ngục không biết ông là ai, họ vẫn thấy sợ ông. Họ không có gì để làm nền tảng cho nỗi sợ ấy, bởi vì ông là một tù nhân gương mẫu, nhưng vì một lý do nào đó, mọi người trong bọn họ đều thấy ông khác biệt – và vô cùng nguy hiểm.

Không giống những người tù khác, ông không chịu để mình rơi vào sự ảm đạm và bất động, ông tập Không Thủ Đạo hàng ngày, một mình trong xà lim, giữ cho thân thể được khỏe mạnh mặc dù cuộc sống quá tệ hại. Bởi vì ông không giao thiệp với ai cả và thường khi người ta thấy ông như ở trong trạng thái xuất thần, ngồi trầm tư mặc tưởng, những tên lính canh mê tín cho rằng ông là một nhà phù thủy.

Cuối cùng, các viên chức nhà lao đã biết dược ông là ai. Họ tức tốc ra lệnh ông phải bị hạ bất cứ giá nào. Nếu họ thành công, đó là một vinh quang cho họ và là một sự mất mặt ê chề về phía người Nhật, vì họ đã chứng minh được rằng sự tự kiểm và sức mạnh của môn Không Thủ Đạo Nhật chỉ là một huyền thoại.

Nhưng họ đã thất bại.

Vị võ sư bị giam trong một phòng biệt lập, không một chút ánh sáng. Ông được cho một số đồ ăn đủ để cho khỏi chết mà thôi. Ông phải chịu cực hình, và người Tàu quả đã phát triển nghệ thuật tra tấn lên đến cao độ. Không một việc nào có chút ảnh hưởng đến ông. Đặt mình trong trạng thái xuất thần nhờ việc ngồi suy tưởng và luyện thở, ông không thấy đau đớn, xúc động hoặc đói khát gì cả. Ông đã hoàn toàn làm bối rối những tên chúa ngục của ông và ngay cả những tên cai ngục lỳ lợm nhất cũng nhìn ông kinh hoàng.

Cuối cùng, những viên cai ngục quyết định một thử thách chót. Sau nhiều cố gắng và khó khăn họ đã tìm được một con cọp. Họ nhốt con cọp vào chuồng và cho nó nhịn đói ba ngày. Họ dự định sẽ quăng vị võ sư Không Thủ Đạo trần truồng vào chuồng cọp. Nếu ông lại ở trong trạng thái xuất thần và không hay biết gì cả, ông sẽ bị con cọp giết chết và ăn đi. Sau đó, người Tàu có thể buộc tội ông là hèn nhát, nói rằng ông sợ chết vì giao đấu, một hành động không thể tưởng tượng được, đối với một hiệp sĩ hoặc một nhà võ thuật.

Chương trình được thực hiện. Họ quăng ông vào chuồng cọp, mặc cho định mệnh đẩy đưa.

Trong võ Không Thủ Đạo, không có cái gì là không làm được.

Lúc bước vào chuồng cọp, vị võ sư Không Thủ Đạo hình như bị quỷ ám. Với một tiếng gầm kinh dị, ông lao vào tấn công con hổ ! Hầu như trước khi mọi người có thể thấy việc gì đã xảy ra, ông đá vào mũi con hổ, làm con thú mất phương hướng, xong giáng một đòn cùi chỏ ngang mang tai con hổ, trong hki ông đè lên thân nó, trước khi nó kịp đứng dậy. Nhà phù thủy Nhật Bản, như các viên cai ngục đã gọi ông sau đó, đứng phía sau con thú, dùng một thế siết cổ. Ông co rút mọi bắp thịt trong cơ thể và thét một tiếng vang dội vào tai con vật trong khi ông siết cổ nó với tất cả sức mạnh tinh thần và thể chất. Con hổ bị chết vì thiếu dưỡng khí không đầy hai mươi giây sau.

Những người chứng kiến vô cùng khiếp hãi, khi họ nhìn chòng chọc vào con người kỳ lạ đó. Ông như hiện thân của con cọp và họ tin rằng ông không phải là người, rằng ông bị quỷ ám. Họ nói rằng ông bước vào chuồng cọp không chút sợ hãi, và con cọp có vẻ sợ ông.

Mọi người trong trại tù chính trị đều kinh khiếp, không ai dám lại gần người đàn ông Nhật Bản đó, và mọi người thở phào nhẹ nhõm khi ông được phóng thích khỏi trại giam.

Tên vị võ sư ấy là Gogen Yamaguchi, biệt danh là “Người mèo” Không Thủ Đạo.

Hình như không ai biết rõ tại sao ông có cái tên đó. Vài người cho rằng các chú lính Mỹ trú đóng tại Nhật Bản sau Thế chiến thứ II là những người đầu tiên đặt cho ông biệt danh đó, bởi vì ông đi rất nhẹ nhàng trong võ đường đến nỗi họ không biết lúc nào ông đến sát sau lưng họ.

Nhưng dù cái tên ấy bắt đầu như thế nào, nó cũng đã chọn đúng người. Nó có vẻ thích hợp đặc biệt với những động tác mềm dẻo của chính người được gán cho cái tên đó và với chi phái Không Thủ Đạo uyển chuyển, đẹp đẽ mà ông truyền dạy.

Người Mèo, tên thật là Gogen Yamaguchi, là người lãnh đạo phái Không Thủ Đạo nổi danh Goju. Với đầu tóc dài phất phơ và đôi mắt đen sáng quắc, người môn đồ Không Thủ Đạo này đã trở thành một nhân vật quốc tế và là một cái gì thuộc lãnh vực truyền kỳ ngay trong thời đại của mình.

Ra khỏi trại giam ở Mãn Châu sau Thế chiến thứ II, ông đã mang sinh khí đến cho một môn võ đang uể oải, xây dựng nó thành một “Đế quốc” Không Thủ Đạo đại quy mô và hùng mạnh.

Con người đa dạng.

Với 61 tuổi trời, Yamaguchi là một con người đa dạng. Người cháu của dòng họ Samurai ngày xưa này quả thật là một trong những khuôn mặt phức tạp nhất xuất hiện trong giới Không Thủ Đạo thế giới, và cũng là một người bị người ta bàn đến với nhiều ý kiến mâu thuẫn nhất. Là một thầy tu Thần Đạo, ông say mê đạo học. Và cũng có người nói một cách có lý rằng, nếu ở vào một lãnh vực khác, ông có thể bị người ta mô tả như là một người quảng cáo.

Ông là một tông đồ truyền bá lối suy tư trầm lặng và triết học, đồng thời là người chỉ huy không nghỉ ngơi, dai bền, và đầy thiện chí của một tổ chức Không Thủ Đạo có tầm hoạt động khắp thế giới. Bị nghi ngờ là một người “làm ăn”, và thật vậy, ông điều khiển cả công việc của một hệ thống Không Thủ Đạo lớn nhất và thành công về mặt tài chính nhất Nhật Bản.

Với phong thái chỉ huy, không bao giờ đùa, ông đã dùng bàn tay sắt Không Thủ Đạo của mình điều hành tổ chức và hơn 1.200 võ đường cùng hội quán và 600.000 hội viên của phái Goju.

Yamaguchi trở nên cuồng tín khi đề cập đến vấn đề Không Thủ Đạo. Ông chỉ có hai mối say mê trên đời: môn võ và tín ngưỡng của mình. Và thật khó nói đến đâu thì hết con người đạo giáo và bắt đầu con người KhôngThủ Đạo. Hai con người đó đã trở nên gắn liền với nhau qua bao nhiêu năm trời đến nỗi ngày nay có lẽ đã trở thành một.

Luyện tập trên núi

Yamaguchi là một con người nhỏ con, chỉ cao chừng 1m53, nhưng nhìn ông, người ta có cảm tưởng là một người vĩ đại và nghiêm nghị. Ông cân nặng lối 72kg, hình vóc cứng cáp. Cũng có khi người ta thấy ông cười, nhưng rất hiếm, ông rất trang trọng, đứng đắn và kín đáo, với một phong thái đường bệ vô bờ.

Đồng thời, ông cũng có thể là một người vui vẻ cùng tập luyện Không Thủ Đạo ngoài trời với chúng ta. Ông trở nên hoạt động nhất khi leo lên sườn núi trong mùa đông giá buốt, dẫn đầu một nhóm môn sinh, đi chân không và chỉ mặc bộ võ phục mỏng thường ngay.

Mặc dầu giờ đây những điều ham thích của ông đã hạn chế, nhưng tầm hoạt động trong quá khứ của ông không một chút hạn hẹp. Ông học luật, và cũng là một bác sĩ y khoa. Ông tập luyện tất cả các nghành võ thuật chính yếu và là một đệ ngũ đẳng Nhu đạo.

Yamaguchi là một người ăn chay, nhưng trong mấy năm gần đây ông vẫn bị lên cân đôi chút. Tuy nhiên, không vì thế mà ông trở nên chậm chạp. Ông vẫn tung đòn với tốc độ nổi tiếng của ông. Ông có thể đá bay bốn cú đá một lần vào dạ dày, ngực và đầu địch thủ.

Yamaguchi sinh tại Kyushu, Miyataki Ken, năm 1907. Chàng thiếu niên ấy hâm mộ các môn thể dục trong khi đang sức lớn và chính ở đây chàng bắt đầu học Không Thủ Đạo. Nhưng mãi đến khi gia đình dời đến Kyoto trong khi chàng chưa đầy 20 tuổi, chàng mới khởi sự tập Không Thủ Đạo một cách đứng đắn.

Chính vào thời kỳ theo học tại Đại học đường Ritsumeikan mà Yamaguchi lần đầu tiên nghe nói đến môn phái Không Thủ Đạo Guju và Kông Chojun Miyagi, người Okinawa lãnh đạo môn phái.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Muốn biết về môn phái ấy, Yamaguchi viết thư cho ông Miyagi, mời ông tới Nhật Bản. Miyagi nhận lời và chẳng bao lâu sau đó ông lên đường qua Nhật. Cuộc gặp gỡ của hai người là một cuộc hội ngộ định mệnh, không phải chỉ riêng cho môn Không Thủ Đạo.

Chojun Miyagi, vị sáng Tổ võ phái Goju

Miyagi từ thành phố Naha đến, nơi sự phát triển của môn Không Thủ Đạo đã đi theo một con đường biệt lập. Những chi phái Không Thủ Đạo chính yếu tập trung tại Shiru ở Okinawa. Tại Shiru, người ta thường chú trọng đến đòn cương. Nhưng với Miyagi, và phái Goju, đòn nhu cũng được coi là quan trọng như đòn cương.

Thật vậy, chữ Goju có nghĩa là cương nhu. Go trong tiếng Nhật là cương và Ju có nghĩa là nhu. Võ phái này đặt căn bản trên một quan niệm Đông phương, rằng mọi cái đều cứng là không tốt. Đồng thời, mọi sự đều mềm dẻo và quá nhu mì cũng hại. Hai yếu tố đó phải bổ túc lẫn nhau.

Sự tổng hợp của cả hai đã tạo nên cho môn phái Không Thủ Đạo Goju các đòn đẹp, có quy củ, uyển chuyển, nhịp nhàng, bay bướm. Nhưng nhỡ có ai cho rằng phái Goju chỉ là một lối vũ duyên dáng với quá ít các tính chất võ thuật bên trong. Người ấy chỉ cần nhìn hai môn sinh phái Goju tự do đối luyện là thấy rõ.

Động tác nhanh, nhanh vô cùng. Ở đây, người ta chú trọng đến cách tấn công chủ động, tung đòn rất “cương” nhưng với sự dễ dàng và liên tục. Các đối thủ không có nhiều thì giờ để đứng yên, gườm nhau chờ một chỗ hở. Họ thi nhau đấm chớp nhoáng, luôn luôn di động, không phải chỉ tiến và lùi, màcòn qua hai bên và từ bên phải hay bên trái của địch thủ tung đòn vào người đó.

Yamaguchi lập tức ưa chuộng ngay những bài quyền lạ lùng và rắc rối do Miyagi biểu diễn. Từ lúc ấy, tương lai của Yamaguchi đã được định đoạt. Ông chuyên chú vào việc tập luyện môn Goju đến nỗi hầu như bỏ rơi mọi sự. Khi miyagi rời Nhật Bản trở về Okinawa, ông để lại đằng sau một môn đồ dày công tập luyện và rất xuất sắc, Miyagi thăng cho Yamaguchi đẳng cấp cao nhất trong võ phái Goju và ông cầm đầu môn phái tại Nhật.

Một tông đồ tận tụy

Miyagi không thể lựa chọn một người nào khác hơn nữa. Nhiệt thành, bền bỉ, Yamaguchi đã trở nên một thánh Tây đồ của võ phái Goju ở Nhật. Với ý chí sắt đá, ông khởi sự truyền bá môn võ khắp nước Nhật. Công việc đầu tiên của ông là thiết lập các võ đường. Ông tổ chức hội Không Thủ Đạo đầu tiên tại trường Đại học Ritsumeikan và võ đường Không Thủ Đạo đầu tiên ở miền tây Nhật Bản năm 1930. Dưới sự lãnh đạo không chút mệt mỏi của ông, môn phái bắt đầu thu hút các môn sinh mới và khởi sự lan tràn khắp xứ.

Mới đầu, trong công cuộc phát triển tại Nhật, Yamaguchi đã thực hiện một sự thay đổi căn bản trong môn phái Goju. Sau khi quan sát các môn sinh, ông đi đến kết luận rằng chi phái Không Thủ Đạo Okinawa, với nguồn gốc cổ truyền là võ Tàu, quá tĩnh và gò bó.

Ông tin rằng chỉ tập quyền và tập giao đấu có quy ước không thôi sẽ cản trở rất nhiều người môn sinh. Theo những động tác của phái Okinawa, ông nhận thấy nhiều môn sinh không thể sáng tạo những đòn tổng hợp đủ sẵn sàng hoặc theo đòn có lợi cho mình khi địch thủ để hở.

Điều Yamaguchi muốn thực hiện là mở rộng các động tác để môn sinh ra đòn nhanh hơn và tự do hơn. Ông muốn mỗi người có thể tạo cho mình một số đòn liên hoàn, miễn là vẫn giữ những kỹ thuật căn bản của môn võ. Trước hết, ông áp dụng ý kiến trên vào việc tự do đối luyện.

Ban đầu, tự do đối luyện được hệ thống hóa thành những đường đi nước bước đàng hoàng. Sau đó, chỉ còn một bước tự nhiên từ việc tự do đối luyện đến việc giao đấu tranh giải. Nhưng đi từ võ đường đến nơi tranh giải, việc tự do đối luyện lại còn biến đổi thêm nữa. Yamaguchi phải nhờ đến số vốn kiến thức của mình về những ngành võ thuật khác để thiết lập một cách đấu tranh giải.

Các nguyên lý của kiếm đạo

Thời ấy ông căn cứ nhiều vào các nguyên lý của kiếm đạo trong việc thiết lập các luật lệ tranh đấu với tính cách thể thao. Kiếm đạo được ưu tiên vì hai lý do: Nó chú trọng đến kỹ thuật khi tung đòn và giới hạn vùng tấn công. Mặc dầu có nhiều sự dị biệt với các môn khác kế vùng để hở được tấn công, Yamaguchi nhắm vào bụng và đầu như những mục tiêu.

Ông giải thích: “Trong kiếm đạo, một lưỡi kiếm thật có thể cắt đứt bất cứ phần nào trong cơ thể con người và gây ra thương tích hoặc tử trận. Nhưng để chắc chắn, chỉ có những đòn tấn công nơi đầu và bụng mới được tính điểm”. Đối với Không Thủ Đạo cũng vậy, những vùng tấn công phải được giới hạn. Và loại đòn tung ra cũng thế. Trong khi giao đấu, các đầu thủ chỉ được quyền đấm đá mà thôi. Cùi chỏ, trảo, và những đòn dùng ngón tay và bàn tay xòe bị cấm ngặt. Tuy nhiên, khi giao đấu tại võ đường, ai muốn dùng đòn gì thì dùng, không bị ngăn cản. Bởi thế, người ta thường nhận thấy người đấu giỏi nhất trong võ đường có thể không phải là người giỏi nhất khi đấu tranh giải, và ngược lại.

Đi Mãn Châu

Với việc giải thoát môn Không Thủ Đạo khỏi bị gắn bó chặt chẽ với các bài quyền, và với sự du nhập khía cạnh tranh giải, môn Không Thủ Đạo đã tiến những bước dài trong vòng mấy năm. Nhưng chiến tranh đã bùng nổ, và dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh thời chiến, Nhật Bản đã dấn thân vào chính sách bành trướng.

Năm 1939, Yamaguchi đã phải rời võ đường mình và được phái đi Mãn Châu như là một nhân viên của Chính phủ Nhật. Ông ở lại đây suốt thời chiến tranh. Trong khi phiêu bạt tại xứ người, ông đã có dịp chu du Trung Hoa để học những ngành võ thuật của nước này.

Khi chiến tranh sắp chấp dứt, Yamaguchi bị bắt cầm tù. Vào lúc ấy, vợ ông, bà Midori, lại đang cận ngày sinh đứa con thứ ba. Dẫn theo hai đứa con bên mình, bà Yamaguchi đã đi bộ hàng mấy cây số qua làng bên và sinh nở nơi đây. Mấy tháng sau làng này bị bốn lực lượng quân sự thường xuyên oanh tạc.

Mặc dầu là một người trầm lặng và dễ cảm xúc, bà Yamaguchi trong thời kỳ này đã tỏ ra có sức mạnh ngấm ngầm và ý chí mạnh mẽ. Những người thân cận với tổ chức Goju đều nói rằng nếu Yamaguchi không có bà Midori, với ý chí sắt đá của bà bên cạnh trong những năm ấy, ông đã không thể thiết lập được cơ sở của mình. Một vài môn sinh thời xưa cảm thấy yêu mến bà hơn là thầy họ. Bà đã khuyến khích họ và giữ tinh thần họ qua những năm tập luyện gian khổ.

Yamaguchi đã có tên trong danh sách làm khổ sai trong trong trại tù chính trị. Nhưng ngay cả những người giam giữ ông cũng đã thấy ông làm sao ấy. Sau bao nhiêu thử thách, họ biết được ông là ai, và sự việc như đã kể ở đầu bài.

Cuối cùng, khi Yamaguchi được phóng thích năm 1947, ông trở về quê hương, thấy mọi ngành võ thuật đang tan nát. Quân đội các nước Đồng minh đã đặt võ nghệ ra ngoài vòng pháp luật, trong thời gian họ chiếm đóng. Nhưng may mắn thay, Không Thủ Đạo không bị ảnh hưởng, bởi vì vào thời đó, môn võ này không được người Tây phương biết đến nhiều và các sĩ quan chỉ huy tưởng rằng Không Thủ Đạo là một ngành vũ Đông phương.

Dù được may mắn như thế, Yamaguchi vẫn thấy bao nhiêu công việc nặng nề chờ đợi mình. Ông thấy võ đường của mình vô tổ chức trong khi ông đi vắng. Ông khởi sự làm việc với ý chí sắt đá, xây dựng lại tất cả. Một điều đã giúp ông là cái bề ngoài khác thường của mình. Ông đã để tóc dài, theo lối các tu sĩ Thần đạo và các Samurai thời xưa. Bởi những phong thái cổ truyền đã bị dẹp qua một bên sau khi chiến tranh và sự đua đòi theo phương Tây, Yamaguchi lại càng phải đặt niềm tin tưởng mãnh liệt vào những truyền thống của xứ sở bằng cách thể hiện phong thái của các lãnh chúa thời phong kiến cũ.

Bành trướng võ nghệ

Bề ngoài kỳ lạ và lòng nhiệt thành của ông, với niềm hãnh diện về quá khứ của dân tộc, đã được dân chúng Nhật đáp lại. Những năm sau đó chứng kiến một sự bành trướng đáng kể của môn Không Thủ Đạo, cũng như mọi ngành võ thuật khác, và không những ở Nhật, mà còn ở các quốc gia khác.

Có một điều hơi khôi hài là trong khi Nhật Bản không hề truyền bá những tư tưởng của mình bằng vũ khí trong thời chiến, thì những môn chiến đấu cá nhân của nước này lại lan tràn khắp thế giới trong thời bình. Một điểm thích thú nữa cần nêu ra là sự chiếm đóng bằng quân sự tại nước Nhật, xét về một quan điểm là có lợi. Có rất nhiều người ngoại quốc phục vụ tại Nhật đã tìm đến võ đường Goju Kai ở Đông Kinh, luyện tập võ nghệ. Khi về nước, họ mang theo mình môn võ ấy và giúp sức truyền bá nơi hải ngoại.

Một trong những công việc đầu tiên mà Yamaguchi thực hiện, từ khi ở Mãn Châu về, là cố gắng làm sống lại lòng hâm mộ võ thuật. Ông quyết định mở một cuộc biểu diễn dài một tuần lễ ở Đông Kinh, trình bày tất cả các môn võ Tàu mà ông đã khám phá trong những năm lưu trú tại đây, cũng như ngành võ thuật cổ truyền Nhật Bản. Kỳ đại hội đó đã gặt được nhiều thành quả và giúp cho việc làm sống lại lòng say mê võ nghệ. Trong lúc đó thì các môn sinh của Yamaguchi từ khắp nơi đổ về họp mặt với thầy.

Môn phái vững mạnh

Ngày nay, phái Goju là một phái đang bành trướng mạnh tại Nhật. Từ Tổng hành dinh tại võ đường Goju Kai, Yamaguchi coi sóc cả một hệ thống lớn những võ đường, trong các trường học, công sở, xưởng máy và khắp nơi trong xứ. Và Yamaguchi kiểm soát chặt chẽ tổ chức của mình.

Kết quả là môn phái được tổ chức chu đáo, với những nguồn tài chính lớn mạnh để có thể điều hành và phát triển môn võ. Đối với các huấn luyện viên và những môn sinh cao cấp, ông thường mong một ngày nào đó họ sẽ mở được những võ đường riêng của họ. Ông có thể giúp họ về tiền bạc họ đang cần trong thời kỳ xây dựng.

Về phần họ, họ trung thành với môn phái và với chính bản thân thầy mình. Một phần nhờ sự giúp đỡ tài chính, một phần nhờ uy tín cá nhân, Yamaguchi đã thành công trong việc buộc chặt các giám đốc võ đường ấy với ông, thay vì nhìn họ tản mát, thiết lập các chi phái riêng của họ.

Để giữ cho cả hệ thống điều hành, phải có những nguồn tài chính vững chắc chảy dần về tổ chức cao cấp để thăng đẳng cấp cho môn sinh. Đã qua rồi cái thời một võ sư dạy ít người, học trò tới tận nhà thầy để tập luyện, Yamaguchi giờ đây có gần 2.000 môn sinh riêng tại Goju Kai mà thôi. Ngày nay, muốn điều hành một cơ sở võ thuật lớn mang lại thành quả, cần phải có tổ chức và tài chính.

Tiền quỹ được nhận vào bằng hai cách: Bằng tiền nhập hội mà môn sinh phải đóng khi ghi tên tại một võ đường thuộc phái Goju, và bằng sự cấp phát bằng cấp. Một phần số tiền đó chia cho võ đường địa phương và phần kia gửi về tổ chức trung ương. Yamaguchi đã dùng quỹ đó mở những võ đường mới, trả lương huấn luyện viên, và trang trải các chi phí tổ chức, thường xuất hiện trong một cơ sở quan trọng như “Đế quốc Không Thủ Đạo” của ông.

… Và phái Không Thủ Đạo Goju cũng mang một bộ mặt phức tạp, lạ lùng không thua gì người lãnh đạo nó mà chúng tôi đã trình bày trong phần trước. Cách tung đòn của nó chịu ảnh hưởng của một số môn phái khác.

Nhiều đòn đánh ra trông rất dịu dàng như trong các phái võ Trung Quốc. Thật ra phái Không Thủ Đạo ở Xung Thằng (Okinawa) bắt nguồn từ lục địa, được du nhập vào Nhật Bản hơn 400 năm nay, và tiến triển thành một môn võ lấy “cương” làm trọng. Về nguồn gốc của toàn môn phái Không Thủ Đạo nói chung, người ta chỉ biết mơ hồ bằng vài mẩu chuyện truyền kỳ do người xưa kể lại, theo những mẩu chuyện ấy thì môn Không Thủ Đạo phát sinh từ thời Đức Bồ Đề Đạt Ma, ông Tổ của môn Thiền học Phật giáo, đã từ Ấn Độ lặn lội qua Trung Quốc (năm 520 sau Tây lịch), trước tiên đến trụ trì tại chùa Thiếu Lâm, Ngài đem những tư tưởng Phật giáo truyền dạy cho môn đồ.

Môn thể dục cho các nhà sư

Chương trình giảng dạy và kỷ luật của Ngài nặng nề và nghiêm khắc đến nỗi các môn đồ không thể chịu nổi, lần lượt hết người này đến người kia ngã lăn ra bất tỉnh. Từ đó, Ngài dạy cho các môn đồ môn Thể dục và Trí dục đặc biệt. Chẳng mấy chốc, các nhà sư ở Thiếu Lâm tự trở nên nổi danh vì quả đấm vũ bão của họ, và môn võ đó được truyền bá khắp nơi trong nước.

Tuy nhiên, chắc chắn hơn, người ta biết rằng Không Thủ Đạo phát triển và hoàn hảo dần trong tỉnh Okinawa, hòn đảo ở phía Đông nam nước Nhật. Giữa hòn đảo này và nước TrungQuốc, từ những thời đại xa xưa, đã có những mối giao thông và trao đổi thường xuyên. Bởi vậy môn quyền thuật Trung Quốc được du nhập vào Nhật, phần lớn do những học giả thời bấy giờ. Nhưng phải đợi đến thế kỷ 15 môn Không Thủ Đạo mới phát triển; Thực vậy, Shôpasi,người cai quản đảo Okinawa, đã ban hành một chỉ dụ cấm sử dụng, sở hữu và mang bất cứ món binh khí nào trên lãnh thổ của ông; ai trái lệnh, phải tội chết. Về sau, vào năm 1609, đảo Okinawa bị lãnh chúa Shimazu chiếm lấy làm lãnh địa. Đến lượt ông, ông cũng cấm tất cả dân chúng ở Okinawa không được sở hữu và sử dụng vũ khí.

Như vậy, hai lần không một tấc sắt trong tay, dân cư ở Okinawa đã tìm cách kiếm một phương thế để tự vệ không cần vũ khí và cuối cùng làm hoàn hảo môn chiến đấu tay không: Võ KARATE (Kara: trống không, Te: tay), môn Không Thủ Đạo đặc biệt của họ.

Trở lại võ phái Goju, phái này chủ trương rằng nhờ những phương pháp luyện hơi thở, thân thể các môn đệ trở nên cứng cáp, có thể chịu một cú đấm hay cú đá mà không cảm thấy đau đớn gì cả. Thỉnh thoảng, các môn đệ phái Goju đã khổ luyện bằng cách luân phiên nhau, người đang luyện hơi thở để yên cho người kia đấm đá xối xả vào người. Nhưng những cú đấm, cú đá ấy chẳng ăn thua gì cả, vì trong khi vận khí, thân thể họ trở nên cứng như sắt.

Nhu thắng cương

Ông Miyagi lại đem ảnh hưởng của các môn phái bên Trung Quốc sau này về Nhật sau một chuyến du hành vào lục địa để học hỏi. Miyagi theo học ở một trường theo phái “cương”.

Người ta kể rằng khi thăm viếng một ngôi đền, ông thấy một con sếu đậu trên mái ngói. Khi đến gần, con chim hoảng sợ vụt bay đi, vô tình đập cánh vào mái đền, làm bể mấy viên ngói.

Miyagi kinh ngạc. Những chiếc lông mềm mại của một con chim làm sao có thể đập vỡ những vật cứng như ngói được ? Việc ấy đã làm ông suy nghĩ và sau cùng mang lại cho môn phái Không Thủ Đạo những điều mới mẻ: Những đòn “nhu” được thêm vào số đòn “cương” đã có, để đỡ những đòn tấn công ác liệt của địch thủ.

Năm thành công lực

Nhiều đòn của phái Goju ngày nay trông giống như một cái đập cánh của một con chim. Có những đòn đỡ cũng như tấn công mang hình thức một cái phát nhẹ, tuy rằng nếu bị cái phát ấy chạm phải, quả thật ta thấy nó mạnh như hổ báo chứ không yếu như chim.

Trong hiện tại, môn đồ của phái Goju áp dụng cái mà họ gọi là “luật năm thành công lực”: đỡ một đòn được tung ra rất mạnh bằng một thế “nhu”. Luật năm thành công lực được dùng để phân chia sức công phá của địch thủ ra từng hạng. Một đòn nhẹ, có thể dùng một hay hai thành công lực để đỡ. Khi nào đòn tấn công sấm sét quá thì mới dùng hết năm thành công lực.

Để đỡ một đòn mà địch thủ dùng hết sức để tung ra, các môn sinh phái Goju không bao giờ dùng một đòn “cương” để đỡ ngay lập tức. Trái lại, họ sẽ đợi nó đi gần hết đường của nó đã rồi chỉ dùng ba thành công lực là đủ. Chỉ dùng một sức vừa phải để đỡ, môn sinh Goju như vậy đã không làm hao công lực của mình. Nhờ mình biết chờ đợi, địch thủ sẽ bị mất đà và lao theo cái đá hoặc cái đấm chính họ. Trái lại, nếu mình đỡ ngay, địch thủ có thể lấy lại được cả sức lẫn thăng bằng, do đó lại tung thêm nhiều đòn ác liệt hơn nữa.

Môn sinh Goju đang công phá gạch

Dĩ nhiên, sự chờ đợi đó đòi hỏi môn sinh phái Goju phản ứng kịp thời và đúng lúc để có thể thâu tay chân về thật nhanh và thật chính xác. Do đó, trong phái này sự nhanh nhẹn là điều cốt yếu.

Đòn tấn công phải được tung ra nhanh như chớp và liên hoàn. Người Mèo chẳng hạn, có thể một lần tung ba bốn cước vào ngực, cổ và màng tang địch thủ.

Đòn tay của ông như sao xẹt. Một trong các trò biểu diễn của ông là treo một tấm giấy bìa cứng bằng hai sợi chỉ mành, rồi sau đó ung dung cho tay vào ống tay áo. Bàn tay ông ta bất thần tung ra đấm thủng miếng bìa, ba lỗ bằng ngón tay, rồi lại cho tay vào ống tay áo trở lại. Mà người xem chỉ kịp thoáng thấy một cái – rồi hết. Sau khi ảnh tay ấy vụt tắt đi, ba lỗ thủng hiện ra trên tấm bìa cứng, mặc dầu tấm bìa vẫn bất động.

Toàn thể những đòn công cũng như thủ của phái này đặt căn bản trên sự nhanh nhẹn. Đòn tung ra theo mọi hướng, không như những phái khác chỉ chú trọng đòn đánh về phía trước. Một thế tấn căn bản, được gọi là “thế tấn con mèo” là một thế trông rất nhẹ nhàng, bàn chân trước nhón gót, sẵn sàng để di chuyển hoặc đá theo mọi hướng, khác hẳn với thế tấn thật vững, hai bàn chân bẹt hẳn trên đất được dùng rất nhiều trong các môn phái trọng “cương”.

Yamaguchi biết hàng trăm đòn khác nhau, nhưng những đòn “ruột” của ông là các thế đá và đánh cùi chỏ. Hai cùi chỏ của ông rất lớn và đòn cùi chỏ của ông thật là sấm sét. Về đòn chân, ông thích nhất đòn tổng hợp này: đá đằng trước, tiếp theo là đá vòng cầu.

Nhưng dù quan tâm đến sự nhanh nhẹn đến đâu đi nữa, việc luyện các bài quyền cổ truyền không vì thế mà bị xao lãng. Phái Goju, vì yêu thích những động tác thanh tao, uyển chuyển, hy vọng có thể đưa những bài quyền cổ truyền lên đến tuyệt đỉnh nghệ thuật. Nhiều môn sinh Goju thấy rằng bài quyền thường mạnh và đẹp hơn là giao đấu, không kể sự khác biệt sâu xa giữa hai thứ này.

Luyện khí

Môn phái Goju lại còn nổi tiếng một phần lớn nhờ những phương pháp luyện thở tinh vi của họ.

Có hai phương pháp thở cần phải tập luyện: In-ibukiYo-ibuki. In-ibuki là một lối thở nhẹ nhưng chắc chắn bắt đầu từ đan điền, tương tự với cách thở trong Yoga cũng như Thiền định, và thường dùng trong khi suy tưởng những vấn đề tâm linh. Những môn sinh phái Goju nhất quyết rằng đó là cách thở bình thường của một đứa hài nhi, vì mãi đến khi lớn lên nó mới học cách thở bằng ngực.

Yo-ibuki là một cách thở mạnh, tiếng thở có hiệu quả làm người ta khiếp hãi. Hơi thở vào được hít nhanh qua mũi trong khi hơi thở ra được thở bằng miệng từng hơi ngắn. Khi thở ra, cả thân người gồng cứng, kể cả cuống họng. Khí quản bị thắt chặt và không khí được dồn từ đan điền lên. Lối thở này được gọi là thở như mãnh thú.

Mục đích của phương pháp luyện hơi thở này là tạo nên một sức mạnh thể chất. Sức mạnh ấy cũng đi vào nội tạng, nơi hơi thở được coi là đã làm cho tim và những cơ quan khác trở nên cường tráng.

Đừng để bị yếu sức

Môn sinh được dạy không bao giờ thở ra hết hơi một lần, mà phải ngắt ra từng hơi ngắn. Lý do là vì luôn luôn phải giữ lại một ít khí trời trong người, do đó địch thủ không thể tấn công lúc mình bị hết hơi và vào đúng lúc trước khi thở vào, là khi mình yếu nhất. Luôn luôn phải giữ một ít hơi để đỡ đòn của địch thủ.

Còn một phương pháp luyện khí nữa liên quan đến khía cạnh tâm linh của môn phái Không Thủ Đạo. Vì bản tính huyền bí của nó, đây là một lối thở khó lĩnh hội nhất. Trong khi luyện, tất cả khí lực của con người được tập trung vào một ý tưởng nhất định. Nhờ sự suy tưởng và tập trung khí lực này mà con người có thể tự hoàn thiện hóa cá nhân mình.

Võ thuật là một hình thức tinh diệu của Á Đông đưa con người đến gần sự sống thật sự. Người Âu Tây chỉ chú trọng đến những môn thể thao có đoàn, có đội đường hoàng. Người Đông Phương chúng ta qua niệm đời sống là một điều hoàn toàn phụ thuộc vào mỗi cá nhân và cá nhân phải tự mình tập luyện. Các môn phái lại buộc môn sinh phải hãm mình, cả thể chất lẫn tinh thần. Mục đích của sự khắc kỷ đó là để chế ngự tình lười biếng và thiếu ý chí.

Người Phương Tây cho rằng những đòi hỏi của cơ thể là quan trọng, và không được bỏ bê chúng, trong triết lý Đông phương quan niệm trái hẳn. Thần đạo và Phật giáo chối bỏ cái “tính người”. Chúng ta được dạy phải chịu đựng gian lao và tránh những khoái lạc xác thịt. Do đó, biết bao môn sinh Không Thủ Đạo ở Nhật đã luyện tập cực kỳ gian khổ mà không ăn gì cả để thử thách với sức chịu đựng và kiên gan của mình.

Sau cùng, phần đông người Á Đông chúng ta thường có khuynh hướng bi quan. Tôn giáo đã mặc khải chúng ta rằng cuộc đời này chỉ là tạm bợ, và cuộc đời thực sự, hạnh phúc sẽ đến sau khi chúng ta nhắm mắt lìa đời. Bởi vây, người Đông Phương thường nghĩ rằng sống không phải là sống cho mình, mà phải hy sinh cho người khác.

Khổ luyện trên núi

Áp dụng quan niệm ấy vào võ thuật, người ta còn phải cố gắng hy sinh và ép mình nhiều hơn nữa. Yamaguchi chẳng hạn, mỗi tháng một lần ông đều lên núi để luyện cho mình cứng cỏi hơn về thể xác cũng như tinh thần. Ông luyện khí liên tiếp mấy tiếng đồng hồ dưới một thác nước lạnh buốt để tập cho tinh thần trở nên trơ trơ trước những điều kiện ngoại cảnh đầy chướng ngại.

Dưới thác nước

Vào những ngày giá rét nhất mùa đông, Yamaguchi lặn lội vào trong những ngọn núi tuyết phủ để tập luyện ít tuần. Ông và các môn đệ mở đầu một ngày tập luyện bằng cách xối lên người dòng nước lạnh cắt da. Sau đó, họ đứng dậy chạy một lúc, rồi lại ngồi luyện khí dưới những ngọn thác đổ xối xả lên người họ. Hết buổi tập, Yamaguchi vẫn tươi mát và khỏe khoắn như thường dẫn các môn đệ để chân không chạy lên núi ngồi thiền một lúc.

Ở nhà, ông cũng theo một thời khóa biểu rất là nhọc nhằn. Mỗi buổi sáng ông dậy sớm, ngồi thiền hơn một giờ, rồi luyện quyền một mình hơn một giờ nữa. Sau khi điểm tâm, ông lo việc giấy tờ và những việc linh tinh rồi vào võ đường. Ông ở đó để dạy cũng như để tự luyện một mình từ trưa cho đến 10giờ khuya.

Trường trung học võ thuật

Mặc dù năm nay đã 61 tuổi, Yamaguchi không hề tỏ ra thụt lùi. Chỉ trái lại thì có. Ông có những chương trình vĩ đại đang thực hiện đòi hỏi ở ông nhiều năng lực. “Giấc mộng lớn” của ông là thiết lập một trường Trung học Võ thuật ở Nhật Bản. Hai năm đầu, các môn sinh sẽ được mang huyền đai. Trong năm thứ ba và thứ tư, họ tập làm huấn luyện viên. Những môn học phụ sẽ là môn sử dụng binh khí, tôn giáo và nghệ thuật Nhật Bản.

Để hoàn thành việc truyền bá môn Không Thủ Đạo ra ngoài nước Nhật. ông đã tìm cách mở rộng các võ đường của mình ở nước Mỹ. Các võ đường ở Los Angles, San Francisco đều do các người con trai của ông làm Giám đốc.

Võ đường ở San Francisco do anh Gosei điều khiển. Dĩ nhiên Gosei là một huyền đai, như hai anh và hai em gái của mình. Cả năm người con của ông Yamaguchi đều khởi sự tập võ từ khi còn nhỏ. Mặc dầu Gosei đã tập Không Thủ Đạo hằng ngày từ thuở lên 5, thân phụ anh chỉ cho anh mang đai đen khi anh được 20 tuổi.

Ông thường nhắc nhở anh: “Con nên nhớ rằng ta luôn luôn vẫn còn là những võ sinh Không Thủ Đạo: Không bao giờ ta có thể trở thành những võ sư hoàn hảo cả”.

Ông bắt các người con trai của mình tập luyện gian khổ để đào tạo cho họ càng giỏi càng hay.

Tuy nhiên, dù ngày nay họ là những môn sinh xuất sắc vô cùng, mối say mê của họ lại không phải là Không Thủ Đạo; ít ra điều này cũng đúng cho trường hợp hai người con trai lớn nhất của ông.

Ban đầu, Gosen Yamaguchi được gửi qua Mỹ để lập một võ đường ở đây. Sau hai năm anh bỏ nghề đi làm cho Hàng Không Nhật Bản. Gosei lại thích văn chương. Người con trai thứ ba, Goshi, vừa đến Mỹ. Anh là người mạnh nhất và đấu giỏi nhất trong ba người, và chưa biết anh sẽ “mê” gì.

Tuy rất cứng rắn với các người con trai của mình, Yamaguchi lại dịu dàng với hai cô con gái. Điều đó có vẻ phù hợp với lý thuyết “cương,nhu” của ông.

Go, dù Ju trong quan niệm của mình, Người Mèo KhôngThủ Đạo cũng được người ta hy vọng ở ông rất nhiều. Ông sẽ luôn luôn tiến bộ trong những năm sắp tới, mặc dù tuổi tác đã cao, và vẫn tìm cách làm cho phái Goju thân yêu của mình mỗi ngày mỗi được truyền bá sâu rộng khắp nơi trên hoàn vũ.

LẠC HÀ

Trích “Tập san Võ thuật”-Số 1/69

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s