Ninjutsu – Môn võ bí truyền của các Ninja part2

Lâu, rất lâu, ở Nhật đã có những điệp viên lợi hại mà những chiến công của họ không thua gì những việc chọc trời khuấy nước của các nhân viên tình báo ngày nay. Những điệp viên đó được gọi là Ninja thuộc môn phái Ninjutsu.

Những Ninja là những người đã âm thầm viết lên những trang sử máu lửa thời phong kiến Nhật. Họ là những hiệp sĩ bịt mặt, đột nhập vào phòng tuyến địch, được thuê làm gián điệp, đốt trại, bắt cóc các nhân vật quan trọng và ngay cả việc ám sát các lãnh chúa trong thời gian dao động này.

Khi một lãnh chúa có một công tác bí mật cần phải hoàn tất, thì đó là phần các Ninja, chứ không phải là các Samurai, là những người chiến đấu đàng hoàng ngoài chiến trận. Các Ninja có thể được gửi đi đánh cắp các tài liệu mật, theo dõi các hoạt động của địch, hoặc dùng mưu kế đánh lạc hướng địch theo chỉ thị của tướng lãnh mình.

Các Ninja làm việc cho phe bên nào cũng được. Họ có thể được một lãnh chúa thuê đi giải thoát các bộ hạ của ông. Hoặc để giúp ông bành trước đất đai và thế lực.

Luôn luôn khổ luyện

Lăn mình vào những việc nguy hiểm như thế, các Ninja dĩ nhiên phải tìm đủ mọi cách để sống còn. Bởi vậy, họ phải học đủ các môn võ thời bấy giờ, chẳng hạn những môn võ bây giờ trở thành Nhu đạo và Không thủ đạo. Các Ninja lại là những tay kiếm cừ khôi, bắn cung giỏi, ném phi tiêu bách phát bách trúng, biết chế thuốc uống, thuốc nổ và các loại độc dược …

Nhưng, đó chỉ là bước đầu của công cuộc tập luyện gian khổ mà những “chuyên viên” phản gián, khủng bố và trả thù này phải trải qua. Họ phải luyện sức chịu đựng của bắp thịt và những động tác của cơ thể trong những giờ dài đằng đẵng, có thể hoàn tất được những việc gian nan như trèo lên những vách thành, những bờ đá dốc đứng, ở dưới nước trong một thời gian dài và thỉnh thoảng lại nín thở giả chết để lừa địch. Họ còn phải tập di chuyển nhanh và không gây tiếng động, tập biến hình trong đêm tối, tập làm sao cho thân hình trông như là một tảng đá, một bụi cây in trên nền trời …

Nhưng đến giữa thế kỷ này, chính phủ Nhật đã đặt các Ninja ra ngoài vòng pháp luật. Những hoạt động của họ được coi là có tính cách lén lút, và ngày nay chỉ có một nhóm nhỏ còn theo đuổi nghiệp Ninja để ít ra cũng có thể giữ cho cái truyền thống khốc liệt của Ninjitsu khỏi phải chết theo thời gian.

“Phong trào” Ninja

Môn võ này hiện nay cũng gần như chết hẳn, nhưng không ngờ lại gây nên một phong trào ưa chuộng đặc biệt.

Cách đây hai mươi mấy năm, một hãng phim Nhật tình cờ sản suất một cuốn phim thuộc loại ít tốn tiền, kể lại những hành động xuất quỷ nhập thần của các Ninja thời xưa. Kết quả thật bất ngờ. Ngay đến nhà sản xuất cũng không ngờ tay họ đã chạm vào núi bạc.

Rồi một phong trào ưa chuộng Ninjitsu ào ạt tiếp theo. Sách vở, phim ảnh, vô tuyến truyền hình, triển lãm dồn dập xuất hiện. Và những hiệp sĩ bí mật xưa kia hoạt động âm thầm trong bóng tối, nay được báo chí hết lời ca tụng và nhắc nhở.

Cơn sốt Ninja lan tràn cho đến tận Úc châu. Giới trẻ ở đây ồn ào vây quanh hình ảnh của Koichi Ose, một tài từ Nhật đóng vai Shintaro trong một loạt chương trình vô tuyến truyền hình được đem chiếu ở Úc. Cảnh sát cho rằng đó là sự đón tiếp nồng nhiệt nhất kể từ ngày ban Beatles đến Melbourne.

Sau đó, trẻ em Úc chơi trò Ninja với những chiếc gậy dài và những cây kiếm Samurai bằng gỗ hay bằng plastic. Ở Sydney, những tiệm bán đồ chơi phải một phen toát mồ hôi hột vì bán đồ chơi quần áo và mặt nạ Ninja. Sau khi loạt chương trình Ninja trên vô tuyến truyền hình kết thúc, khán giả vẫn chưa thỏa mãn. Sự đòi hỏi của họ quá lớn nên vô tuyến truyền hình đã cho chiếu lại chương trình ấy vào ngày chủ nhật để trẻ em cũng như người lớn đều có thể xem được.

Nguồn gốc Trung Hoa

Người ta cho rằng môn Ninjitsu không phải bắt nguồn từ Nhật mà phát xuất từ Trung Hoa, trong khoảng từ 500 đến 300 trước Công nguyên. Ninjitsu có lẽ đã phát sinh từ một chương sách bàn về gián điệp trong một cuốn sách cổ của Trung Hoa: Đó là cuốn Binh pháp của Tôn Tử.

Nhưng mãi đến thế kỷ thứ sáu sau Công nguyên, những chiến thuật về gián điệp mới du nhập vào Nhật. Lãnh chúa Shotoku (593-622) đầu tiên dùng các thuộc hạ của mình mặc quần áo thường để dò xét cả hai bên, nhằm tìm ra sự thật trong một cuộc tương tranh. Khoảng 500 năm sau, Ninjutsu dần dần lớn mạnh nhờ những cố gắng của những nhóm nhà sư nổi loạn ở núi thường được gọi là Yamaloushi. Buộc lòng phải chống lại những đạo quân đông đảo do nhà vua gởi đi đánh dẹp, những nhà sư gan dạ này đã mượn của Trung Hoa những chiến thuật để dùng trong việc chiến đấu cá nhân cũng như chiến đấu với đồng đội.

Đến cuối đời Heian năm 1185, chính quyền trung ương ở Kyoto trở nên yếu đuối đến nỗi kinh đô về đêm bị ba tên đạo chích xuất thân từ nhóm Ninjutsu của các nhà sư nói trên mặc tình làm mưa làm gió.

Nhiều võ đường lập tức được thiết lập để đào tạo những mầm non Ninja, kể cả võ đường nổi tiếng của ông Yoshitsune, một chiến sỹ can trường.

Môn Ninjitsu phát triển mạnh khi đời nhà Kamakura bắt đầu năm 1192 và bành trướng trong vòng 400 năm sau đó. Vào khoảng thời gian này có đến 25 võ đường được thiết lập. Những nơi trọng yếu của môn võ này thường tập trung vào các tỉnh Iga và Koga thuộc miền Bắc Nara. Đó là chưa kể những võ đường ở rải rác các vùng trong xứ.

Một vài võ tướng đặt các Ninja của mình trong những đô thị quan yếu thời bấy giờ để báo cáo tin tức bằng cách đốt lửa trên đỉnh núi. Mặc dầu hầu hết các Ninja hoạt động về đêm trong những bộ quần áo đen, một chiếc khăn trùm đầu cũng đen. Chỉ chừa hai lỗ cho hai con mắt, một số ít cũng hoạt động ban ngày cải trang thành đủ hạng người, từ những thương gia giàu có cho đến bọn hành khất.

Một trong những lãnh tụ Ninja tài giỏi nhất là Sandayu Momochi hoạt động ở vùng Iga trong vòng thế kỷ sóng gió ấy, thế kỷ 16. Để làm rối trí kẻ địch và giấu tung tích của mình, Sandayu tậu 3 căn nhà ở xa cách nhau, với ba bà vợ và ba gia đình. Khi tình hình trở nên nguy ngập cho tính mệnh mình trong một vùng nào đó, ông đi qua vùng khác và lại làm chủ một gia đình khác.

Hai trong số ba ngôi nhà của ông nay vẫn còn. Ngôi nhà thứ ba, căn cứ quan trọng nhất của ông ở vùng đồi núi Ueno bị tướng Oda Nobunaga san bằng. Tướng Oda Nobunaga phải dùng đến 46 ngàn quân mới thắng được một ngàn quân Ninja của Sandayu. Người ta cho rằng ông Sandayu đã trốn về phía đông.

Sandayu mất tích từ đó cho đến gần 4 thế kỷ sau, khoa học tân tiến mới tìm thấy dấu vết của ông. Những chuyên viên về mồ mả vừa tìm ra ngôi mộ của ông nằm trong mảnh đất gia đình nhỏ nhắn trên một ngọn đồi, đối diện với một trong những ngôi nhà ngày xưa của ông, tại vùng núi phía sau Nabari, cách Uecno chứng 15 dặm về phía Nam – cháu 17 đời của Sandayu vẫn còn sống trong ngôi nhà với vợ và ba đứa con. Ông ta tên là Itsuki Momochi, một nông dân 54 tuổi. Nhưng Itsuki say mê gặt hái mùa màng hơn là những Ninja đã khuất núi từ lâu.

Một Ninja quan trọng khác nữa vào thời đó là Hanzo Hatori, người đã giúp Tương quân Ieyasu Tokugawa thiết lập đội quân bí mật của mình, các đồ đệ của ông cải trang thành người làm vườn, hoạt động chung quanh những hành dinh của vị tướng này ở Edo (bây giờ là Đông Kinh).

Khi hòa bình và trật tự đã được vãn hồi trong xứ sở và những hoạt động của họ không còn cần thiết nữa, họ được dùng làm cảnh sát và thám tử. Vai trò quân sự chính, cuối cùng của các Ninja, là phần chủ lực giúp cho đạo quân của vị Tướng quân trên đây chiến thắng vẻ vang 40 ngàn quân phiến loạn ở Shimabara Kyushu năm 1637.

Bí mật tuyệt đối

Các Ninja chia làm ba hạng: Jonin (thủ lãnh), Chunin (phó thủ lãnh) và Genin (lính thường). Hạng Jonin đứng đầu một hệ thống tình báo sâu rộng tiếp xúc với các tướng lãnh để nhận nhiệm vụ làm gián điệp và những công tác phá hoại, rồi gửi các Chunin và Genin đi thi hành sứ mạng.

Các Ninja phải tự ép mình vào một thứ kỷ luật sắt. Họ phải giữ bí mật về các chiến thuật của phe mình và phải tìm cách dò xét xem những chiến thuật đó đã bị kẻ địch biết chưa. Số mạng của kẻ phản bội được giải quyết một cách nhanh chóng và chắc chắn. Hắn sẽ bị săn đuổi như một con thú và cuối cùng thế nào cũng bị giết chết.

Nhưng nếu bị kẻ địch bắt thì tính mạng cũng chẳng còn. Còn Ninja thường tìm cách tự vận trước khi phải tiết lộ bất cứ bí mật nào. Tuy nhiên điều ấy ít khi xảy ra, vì nếu một Ninja bị kẻ địch bắt thì đồng chí của anh sẽ dùng một khẩu súng tre hay ném phi tiêu để kết liễu đời anh ta trước hết.

Sách vở và tài liệu viết về Ninjitsu được cất giữ rất kỹ lưỡng và được xem là những thứ gia bảo truyền từ đời cha sang đời con. Hiện nay, một số sách do vài gia đình cất giữ, một số khác được đưa vào bảo tàng viện hay do những học giả còn tập luyện vài môn trong ngành Jujitsu cất giữ. Những tài liệu này cùng những dụng cụ khi xưa các Ninja dùng thỉnh thoảng được trưng bày cho công chúng xem tại viện bảo tàng Ninja ở Meno.

Cơ sở khoa học

Vào thời bấy giờ có rất nhiều chuyện truyền kỳ nói về các hiệp sĩ Ninja. Họ được dân gian xem là có sức mạnh và khả năng siêu nhiên. Người ta kể lại rằng họ có thể bay, đi trên mặt nước, sống dưới nước như cá, biến mất trong một ngọn khói, độn thổ, đi xuyên qua tường và có thể hóa thành rắn, ếch, chim chóc và côn trùng. Nhiều người còn cho rằng các Ninja có thể chết trong một lúc rồi lại sống dậy.

Dù đó chỉ là những chuyện truyền kỳ trong dân gian, nhưng cũng có cơ sở thật phần nào. Về những việc được coi là siêu nhiên ấy, chúng ta cũng có những lời giải thích thỏa đáng.

Chẳng hạn việc Ninja có thể sống dưới nước như cá được giải thích như sau: Họ dùng các ống sậy rỗng làm ống thở, và như thế tha hồ ở dưới nước bao lâu cũng được. Lại nữa, các Ninja có thể mang theo một túi da chứa đầy không khí để thở khi phải ở dưới nước một thời gian. Đó cũng giống như các nhân viên Spectre ngày nay trang bị một tiềm thủy phế để thở vậy.

Việc đi trên mặt nước cũng chẳng còn bí mật gì khi ta khám phá ra các Ninja dùng một loại giày da bơm đầy khí trời.

Tuy nhiên không phải dễ dùng thứ giày này đâu. Các Ninja phải khổ công tập luyện bao năm trời mới đạt được thăng bằng và sự kiểm soát thân thể để có thể đứng vững được.

Các Ninja thường mang theo những ống thuốc nổ để khi túng cùng thì quăng vào mặt địch thủ. Ống thuốc sẽ nổ tung ra, khói bay mù mịt, làm lòa mắt địch thủ trong giây lát và như thế chàng Ninja có thể “biến mất” trong một ngọn khói y như một tay phù thủy.

Việc “bay” của họ cũng có nhiều lối giải thích. Các Ninja thường rất mạnh khỏe và tập chạy, nhảy, leo trèo rất kiên trì. Họ có thể nhảy rất cao và rất xa. Các Ninja lại còn có thể dùng một loại dù để nhảy từ trên cao xuống, người ta tưởng họ biết bay là vì vậy.

Các Ninja thường được gọi là “người bay”, được xem là có thể đi trên tường, trên trần nhà. Điều này cũng có những câu giải thích hữu lý.

Các Ninja dùng một số dụng cụ giúp họ vào nhà, vào thành một cách dễ dàng. Họ mang những đôi giày xốp nên có thể bám vào tường hay vách đá mà leo lên. Một trong những dụng cụ nổi tiếng của môn phái Ninjitsu là một miếng da cuốn chung quanh bàn tay và vòng qua cổ tay. Những miếng da này có gắn bốn mũi nhọn lòi ra phía lòng bàn tay. Những mũi nhọn này có thê dùng để bám vào vách tường, vào xà nhà trên trần và chuyền tay đi qua một căn nhà mà chân không chạm đất.

Miếng da này còn là một thứ khí giới lợi hại khi đánh tay đôi. Một cú đâm bằng dao hay gươm có thể dùng một tay để đỡ, tay kia đánh cả bốn mũi nhọn vào mặt địch thủ.

Khả năng chết đi rồi ít giờ sau sống lại chắc chắn là nhờ ở những kỹ thuật hạn chế hơi thở, một người có thể ở dưới nước trong một thời gian mà không cần dùng ống sậy hoặc túi khí trời, hay giả chết để lừa kẻ địch. Khả năng hạn chế hơi thở còn cho phép Ninja đứng yên trong một lúc lâu. Bởi thế họ có thể lẫn lộn vào các bụi cây hay tảng đá và không động đậy để khỏi bị khám phá. Bởi vậy, người ta mới nói rằng các Ninja “có thể” biến thành một cái cây hay một tảng đá.

Nhưng cho dù những lời giải thích trên đây có hợp lý đến đâu đi nữa, chúng ta cũng không thể chối cãi rằng các Ninja là những người phi thường. Ba đức tính căn bản đòi hỏi một người trước khi gia nhập một tổ chức Ninjitsu là: Ý thức về bổn phận, lanh trí, một thân thể khỏe mạnh để có thể chịu đựng nổi sự tập luyện gian khổ.

Thường thường hầu hết người ta gia nhập vào các tổ chức Ninjitsu giống như một nghề gia truyền, truyền từ đời cha đến đời con. Một người sinh ra là Ninja và chết như một Ninja.

Hiểu như thế, chúng ta không còn lấy làm lạ khi thấy các Ninja muốn chết ngay khi bị bắt hoặc là giết một đồng đội mình sắp sửa sa vào lưới địch. Nếu không chịu nổi sự tra tấn, một Ninja phải tiết lộ những bạn đồng đội của mình, gia đình mình, đe dọa đến tính mạng của các gia đình Ninja khác, trong những trường hợp như thế, chỉ có cái chết là cách giải quyết thỏa đáng nhất mà thôi.

Trích “Nghiên cứu VÕ THUẬT” tháng 2/1990

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s